Bình Định là một trong những tỉnh miền Trung có sự di cư của cá chình bông bột từ đại dương về sâu trong các thủy vực nội địa. Việc khai thác cá chình bông bột để ương thành cá giống cung cấp cho người nuôi là cần thiết. Đề tài: “Nghiên cứu mùa vụ, địa điểm xuất hiện cá chình bột và xây dựng quy trình ương nuôi cá chình bông bột tại Bình Định” về cơ bản đã giải quyết được vấn đề này.
Giống cá chình Anguilla thuộc họ Anguillidae là họ duy nhất trong 22 họ của bộ cá chình Anguilliformes sống trong nước ngọt. Các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng, đến tuổi thành thục cá chình di cư từ sông ra biển để sinh sản. Sau đó lại từ biển về trưởng thành trong các sông suối, đầm hồ nước ngọt. Tạo giống nhân tạo là công việc cực kỳ khó khăn nên nguồn giống nuôi cho đến nay, ngay cả ở các nước có nghề cá tiên tiến trên thế giới cũng khai thác cá con về nuôi trong các trang trại nước ngọt.
Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng
- Thực nghiệm ương cá chình giai đoạn từ cá bột đến cá hương được thực hiện trong bể xi măng tại Trạm Thực nghiệm nuôi trồng thủy sản Cát Tiến (Trạm). Chia làm 3 nghiệm thức theo mật độ ương nuôi (1.500 con/m2, 2.000 con/m2, 2.500 con/m2).
- Thực nghiệm ương cá chình từ giai đoạn cá hương đến cá giống được thực hiện trong bể xi măng dung tích 4m3. Có 3 nghiệm thức theo mật độ ương nuôi: 150 con/m2; 200 con/m2 và 250 con/m2.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
* Kết quả thực nghiệm từ cá bột đến cá hương:
Các yếu tố phù hợp cho sự phát triển của cá chình: Nhiệt độ trung bình từ 27.4 đến 28.3 độ C; Độ pH từ 7.0 đến 7.5; Biến động oxy hòa tan từ 5.5 mg/l đến 6.5 mg/l; Môi trường nước có độ mặn 0‰; Không có NH3-N trong môi trường nuôi. Cá chình bông rất thích môi trường trong sạch, hàm lượng oxy hòa tan luôn ở mức cao. Việc thay nước trong ương cá chình bông được xem như công việc chăm sóc thường xuyên hàng ngày.
Tăng trưởng: Giai đoạn từ cá bột đến cá hương tăng trưởng rất chậm. Tốc độ từ 0.0075g/con/ngày đến 0.0083 g/con/ngày.
Tỉ lệ sống: 1 tháng sau khi thả cá chình bột thì có sự hao hụt rất lớn. Đây là mặt tồn tại mà chưa có giải pháp nào kể cả những nơi có kinh nghiệm ương cá chình như Trung Quốc, Đài Loan. Có nhiều lý do được đưa ra như: thức ăn cho giai đoạn này chưa phù hợp, cá chình bị sốc môi trường khi chuyển vào môi trường nhân tạo, yếu tố dịch bệnh...Vấn đề này các nước có công nghệ nuôi cá chình phát triển đều rất quan tâm.
Kết quả thực nghiệm giai đoạn từ cá hương đến cá giống:
Các yếu tố phù hợp: Mức nhiệt độ trung bình và nhiệt độ cao nhất; Độ pH từ 6.5 đến 7.5; Ô-xy hòa tan từ 5.0 mg/l đến 6.8 mg/l ; môi trường là nước ngọt; không có
NH3-N trong môi trường nuôi.
NH3-N trong môi trường nuôi.
Tăng trưởng: Tốc độ tăng trưởng của cá chình bông khi ương ở mật độ từ 150 con/m2 đến 250 con/m2 khoảng 0.0265 - 0.0269 g/con/ngày. Sau thời gian ương 285 ngày đạt trung bình từ 10.12 đến 10.14g/con. Sự tăng trưởng của cá chình bông qua các tháng ương ở giai đoạn từ cá hương đến cá giống không có sự khác biệt rõ ràng về mặt thống kê.
Tỷ lệ sống: Mật độ ương cá chình càng cao thì tỉ lệ sống càng giảm. Sự hao hụt của cá chình diễn ra đều đặn và liên tục trong suốt thời gian ương.
Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của mô hình thử nghiệm và khả năng nhân rộng trong dân
Hiệu quả kinh tế: Giai đoạn từ cá bột đến cá hương cho thấy ở mật độ ương 2.500 con/m2, kết quả hạch toán đã bị lỗ do tỉ lệ sống thấp như đã trình bày ở trên. Ở hai nghiệm thức ương với mật độ 1.500 con/m2 và 2.000 con/m2 đều có lãi với tỉ suất lợi nhuận từ 2.56%/tháng đến 2.64%/tháng.
Giai đoạn từ cá hương đến cá giống cho thấy tỉ suất lợi nhuận cao nhất là 2.89%/tháng ở nghiệm thức 150 con/m2, tỉ suất lợi nhuận thấp nhất là 1.53%/tháng ở nghiệm thức 250 con/m2. Nhìn chung cả 3 nghiệm thức ương đều có hiệu quả kinh tế.
So với nghề ương giống các đối tượng khác thì ương cá chình bông có thời gian tương đối dài, thời gian thu hồi vốn chậm. Đây là nhược điểm của nghề ương giống cá chình bông.
Hiệu quả xã hội và khả năng nhân rộng trong dân:
Sau 2 năm triển khai thực hiện, đề tài đã tập huấn cho dân với nội dung: Phương pháp thu vớt cá chình bột tại các đập dâng; Tách lọc, lưu giữ và vận chuyển cá chình bột; Kỹ thuật ương nuôi cá chình giống và thương phẩm
0 nhận xét:
Đăng nhận xét